ĐIỂM GẶP NHAU GIỮA THIỀN TÔNG VÀ THIỀN NGUYÊN THỦY
01.01.2010 09:10
Thái tử Tất Đạt Đa khi dạo bốn cửa thành, hình ảnh của già, bệnh, chết đã in sâu vào tâm não Ngài, sự bất lực của con người đối với với sanh lão bệnh tử khiến Ngài trăn trở và cương quyết tìm ra phương pháp giải thoát sinh tử luân hồi. Đây là vấn đề không tiền khoáng hậu mà Ngài tự đặt ra cho mình “‘con đường để giải thoát cho mình và chúng sanh” và đây là sự bức xúc luôn thúc bách, là động cơ chủ yếu để Ngài vượt thành xuất gia.
ĐIỂM GẶP NHAU
GIỮA THIỀN TÔNG VÀ THIỀN NGUYÊN THỦY
TT. Thích Hạnh Trân - Trưởng Ban Nghi Lễ Tỉnh Hội Phật Giáo Tiền Giang.
Tất cả
các phương pháp tu hành của đạo Phật tuy hình thức biểu hiện khác nhau
nhưng cứu cánh vần luôn đồng nhất. Phật Giáo Việt Nam đã có sẵn hai
phương pháp tu thiền: Thiền Tông và Thiền Nguyên Thủy, chúng ta sẽ
nghiên cứu sự gặp gỡ nhau giữa hai pháp tu này để rút ra được nhiều bài
học quý giá. Theo thiển ý chúng tôi thì có những tương đồng như dưới
đây.
A- CHỦ ĐÍCH BAN ĐẦU GẶP NHAU:
Thái
tử Tất Đạt Đa khi dạo bốn cửa thành, hình ảnh của già, bệnh, chết đã in
sâu vào tâm não Ngài, sự bất lực của con người đối với với sanh lão
bệnh tử khiến Ngài trăn trở và cương quyết tìm ra phương pháp giải
thoát sinh tử luân hồi. Đây là vấn đề không tiền khoáng hậu mà Ngài tự
đặt ra cho mình "'con đường để giải thoát cho mình và chúng sanh" và
đây là sự bức xúc luôn thúc bách, là động cơ chủ yếu để Ngài vượt thành
xuất gia. Trên con đường tầm đạo, Ngài đã gặp và thực hành rất nhiều
phương pháp tu tập của các đạo sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ, song vẫn chưa
giải quyết được hoài bão đã cưu mang từ buổi ban đầu. Ngài từ giã họ,
rồi tự mình thiền định tìm kiếm, đến giây phút quyết định là đêm cuối
cùng trong suốt 49 ngày thiền định dưới gốc Bồ đề, Ngài đã chứng đạt
được sự giác ngộ viên mãn. Đến đây Ngài đã thấy một cách tường tận manh
mối đã lôi kéo chúng sanh vào vòng sanh tử và biết rành rẽ con đường
cắt đứt sự trói buộc luân hồi. Thế là Ngài đã giải quyết xong vấn đề
cần giải quyết, Ngài trở thành một vị Phật.
Thiền
Tông và Thiền Nguyên Thuỷ đều thừa nhận Đức Phật Thích Ca là giáo chủ
và đồng thờ kính Ngài, đều lấy sự giải thoát sinh tử làm mục đích tu
tập. Nhưng Thiền tông đặt vấn đề "giải thoát sanh tử là gì".v.v… làm
công án rồi thao thức nghiền ngẫm nghi vấn tạo khối nghi khiến vọng
thức ngưng bặt và tham công án đến khi nào khối nghi vỡ tung ra thì
được kiến tánh, giác ngộ (thiền công án). Vì thế Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã
tuyên bố: "Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm,
kiến tánh thành Phật" và chư Tổ truyền thừa đã dùng công án như một
phương tiện mạnh để thấu nhập vào tự tánh thanh tịnh, bản lai diện mục
của mỗi người. Cũng giống như mạch nước chảy ngầm dưới đất, vấn đề được
ôm ấp trong tâm thức không một phút giây nào quên lãng, khi công phu
thiền định đến tột cùng bỗng dưng phát sáng, như nhờ đào sâu soi thủng
mạch mà nước vọt lên. Chính đây là hướng thực hành của thái tử Tất Đạt
Đa thuở xưa.
Thiền
Nguyên Thuỷ để tâm trí, đặt tư tưởng vào một đề mục, đi sâu vào thiền
định để chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, quán chiếu thấy
rõ bốn sự thật (Tứ đế), từng bước đoạn trừ phiền não, đạt tam minh,
cuối cùng chứng quả A La Hán, giải thoát sinh tử luân hồi.
Trong đoạn kinh sau đức Phật đã dạy:
"Với
tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy hướng dẫn tâm
đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật "đây là khổ", biết như thật "đây
là nguyên nhân của khổ", biết như thật "đây là khổ diệt", biết như thật
"đây là con đường đưa đến khổ diệt". Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức
như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát
khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự
hiểu biết: sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, gánh nặng đã được đặt
xuống, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời
sống nào khác nữa".
B- GIỚI ĐỊNH TUỆ GẶP NHAU:
Thiền
Tông tuy là pháp môn đốn ngộ nhưng vẫn đặt Giới luật lên trên, cụ thể
như Lục Tổ Huệ Năng sau khi ngộ đạo vẫn thọ giới rồi mới hoằng hoá. Hai
pháp tu thường thấy của Thiền Tông là:
- Thiền khán công án, tham thoại đầu
- Thiền "phản quan tự kỷ"
Thiền
tham thoại đầu, khán công án là dùng một công án để khán chiếu hoặc
dùng một thoại đầu để tham cứu như "Thế nào là đại ý Phật pháp", "Thế
nào là ý tổ sư từ tây sang".v.v…. Dồn hết tâm tư vào câu hỏi một cách
liên tục, không ngừng nghỉ nên mọi vọng thức ngoại duyên, suy nghĩ tạp
nhiễm đều tiêu tan, dục lạc thế gian sẽ lơ là, như thế Giới luật đã nằm
sẵn nơi đây. Khi vấn đề kết thành khối nghi, ý thức chết lịm thì tâm
thức thanh tịnh đó là Định và khi khối nghi bùng vỡ, đạt được sự kiến
tánh gọi là Trí huệ, gọi là giác ngộ.
Phản
quang tự kỷ cũng gọi là Hồi quang phản chiếu là nhìn lại mình, quán sát
tâm thức mình, luôn tỉnh thức trong từng tâm niệm lăng xăng, nhờ thế
không chạy theo vọng tưởng, không trôi lăn theo nghiệp là giữ Giới.
Vọng thức không có lối thoát buộc chúng phải đứng yên khiến tâm ý định
tĩnh đó là định. Dứt sạch vọng tưởng, trí tuệ hiển hiện là Huệ, chỗ này
Thiền sư Hoài Hải (724 - 814) nói: "Tâm địa nhược không, huệ nhật tự
chiếu".
Lối tu này xuất phát từ Tổ Đạt Ma chỉ dạy cho ngài Huệ Khả.
Huệ
Khả hỏi: "Tâm con không an, xin Thầy an tâm cho con". Tổ bảo: "'Đem tâm
ta an cho". Huệ Khả sửng sốt tìm tâm không được bèn thưa: "Con tìm tâm
không được". Tổ Đạt Ma nói: "Ta an tâm cho ngươi rồi". Ngay đây ngài Huệ Khả biết được lối vào.
Thiền Sư Đức Sơn (780 - 865) dạy chúng:
"Các
ông chớ cuồng, khuyên các ông không gì hơn THÔI HẾT ĐI, VÔ SỰ ĐI. Tâm
vừa khởi một niệm tức là quyến thuộc của ma, là kẻ tục phá giới".
Cụ thể lối tu này bằng hình ảnh Thập Mục Ngưu Đồ.
Thiền
Nguyên Thuỷ lấy Giới Định Tuệ làm căn bản. Thiếu Giới thì không có
Định, không Định thì chẳng phát Huệ. Chúng ta hãy đọc đoạn kinh Sa Môn
Quả (Trường Bộ I, trang 71):
"Vị
ấy với giới uẩn cao quý này, với sự hộ trì các căn cao quý này, với
chánh niệm tự giác cao quý này, với hạnh biết đủ cao quý này, lựa một
chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha
ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi khất thực về và ăn xong, vị
ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm
trước mặt…"
"Với
tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỳ kheo dẫn tâm,
hướng tâm đến lậu tận trí…..sau đơi fhiện tại không có đời sống nào
khác nữa".
Đọc
qua hai đoạn kinh trên, chúng ta thấy từ Giới luật đầy đủ mới tu thiền
định, từ thiền định đầy đủ mới phát trí huệ sáng suốt, thấy đúng như
thật nguồn cội sanh tử và xuất ly sanh tử.
Thiền
Tông và Thiền Nguyên Thuỷ đều gặp nhau ở chỗ khai thác Trí Vô Sư. Giáo
lý nhà Phật chia trí tuệ thành hai thứ trí: Trí hữu sư và Trí vô sư.
Trí hữu sư do học hỏi mà được, là sản phẩm do người khác truyền sang.
Trí vô sư sẵn có nơi mình, chỉ khi nào mọi tâm lự đình chỉ thì tự phát
hiện.
Thiền
Tông bắt buộc thiền giả phải phat minh Trí vô sư, vì mọi kiến thức tiếp
thu được từ bên ngoài đều thuộc vô thường, thuộc người khác, không phải
của mình. Qua câu chuyện đối đáp giữa hai thiền sư Nhâm Đầu Toàn Khoát
(826 - 887) và Tuyết Phong Nghĩa Tồn (822 - 908) chúng ta thấy rõ điều
này.
Tuyết Phong nói:Tôi thật chưa ổn.
Nham
Đầu bảo: Nếu ông thật như thế, cứ chỗ ông thấy mỗi mỗi thông qua, chỗ
phải sẽ chứng minh cho ông, chỗ không phải sẽ vì ông mà đuổi dẹp.
Tuyết Phong: Khi tôi mới đến Diêm Quan thấy thượng đường nói nghĩa sắc không liền được chỗ vào.
Nhâm Đầu: Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến.
Tuyết Phong: Tôi thấy bài kệ của Động Sơn qua cầu
Nham Đầu: Nếu cùng ấy tự cứu cũng chưa tột
Tuyết
Phong: Tôi nghe "Một vị Tăng hỏi Đức Sơn: việc tông thừa từ trước con
có phần chăng? Đức Sơn đánh một gậy hỏi: Nói cái gì", tôi khi ấy như
thùng sơn lủng đáy.
Nham Đầu nạt: Ông chẳng nghe nói: "Từ cửa ngoài vào đều chẳng phải của báu trong nhà sao".
Tuyết Phong: Về sau làm thế nào mới phải?
Nham Đầu: Về sau muốn xiển dương Đại giáo, mỗi mỗintừ trong hông ngực mình lưu xuất, sau này cùng ta che trời che đất đi.
Tuyết Phong nhơn câu nói ấy mà đại ngộ, kêu lớn: Sư huynh! Ngày nay mới thành đạo ở Ngao Sơn. (Trung Hoa Chư Thiền Đức II, 203).
Thiền
Nguyên Thuỷ cũng do mọi tâm niệm lắng sạch mới phát sanh trí tuêj. Trí
tuệ này do định phát sanh nên thuộc trí vô sư. Chúng ta nghe Phật kể
lại một đoạn tu chứng của Ngài:
"…xả
lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư,
không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh…với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc,
bình thản như vậy, ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh, ta nhớ đến
các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời…" (Trung Bộ I, 247).
Sau
khi xả niệm thanh tịnh, hướng tâm về quá khứ thì thấy rõ nhiều đời của
quá khứ, trí tuệ thấy rõ này không phải do suy xét mà được, chỉ nhờ xả
niệm thanh tịnh nên thuộc Trí vô sư.
(Bài giảng khóa Bồi Dưỡng Kiến Thức Trụ Trì Phật Giáo Tỉnh Long An nhân mùa An Cư Kiết Hạ PL 2552 – DL 2008).
THÍCH LỆ TRÍ (Theo THÍCH LỆ TRÍ) |