Lễ Kỷ Niệm 701 năm ngày Đức Vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn.
05.01.2010 17:45
- Đức vua Trần Nhân Tông, vị hoàng đế thứ ba của nhà Trần, vị vua anh minh lỗi lạc, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà tu hành chân chính, là một vì vua xuất gia, tu hành đắc đạo, người được Phật tử Việt Nam tôn vinh là Điều Ngự Giác Hoàng. Vì những đóng góp vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trên cơ sở giáo lý đạo Phật, nhằm tưởng nhớ công lao và sự nghiệp vĩ đại của Phật hoàng Trần Nhân Tông, người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại của non sông đất nước ta, là người đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam,

Tôn tượng Đức Vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308)




Hòa thượng Thích Trí Quảng (Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị Sự GHPGVN) tuyên đọc diễn văn khai mạc.
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
____________________________________________________
DIỄN VĂN KHAI MẠC ĐẠI LỄ TƯỞNG NIỆM
ĐỨC VUA - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
NHÂN 701 NĂM NGÀY NHẬP NIẾT BÀN
Của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
__________________________________
Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đức
vua Trần Nhân Tông, vị hoàng đế thứ ba của nhà Trần, vị vua anh minh
lỗi lạc, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà tu hành chân chính, là một vì
vua xuất gia, tu hành đắc đạo, người được Phật tử Việt Nam tôn vinh là
Điều Ngự Giác Hoàng. Vì những đóng góp vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ
độc lập, chủ quyền dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước trên cơ sở giáo lý đạo Phật, nhằm tưởng nhớ công lao và
sự nghiệp vĩ đại của Phật hoàng Trần Nhân Tông, người anh hùng dân tộc,
nhà văn hóa vĩ đại của non sông đất nước ta, là người đã sáng lập Thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam, thực hiện Nghị quyết kỳ 2 khóa VI Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự quyết
định chọn ngày 01 tháng 11 âm lịch – ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông
nhập Niết bàn làm một trong những ngày Lễ lớn của Phật giáo Việt Nam.
Vì thế, Trung ương Giáo hội đã có thông tư số 545/TT.HĐTS ngày
27/11/2009, hướng dẫn Ban, Viện Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Tỉnh,
Thành hội Phật giáo trong cả nước trọng thể tổ chức Đại lễ tưởng niệm
701 năm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt.
Thay mặt
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban Trị sự Phật giáo tôi xin
gửi đến Chư Tôn giáo phẩm, chư vị khách quý, chư vị đại biểu cùng toàn
thể Tăng Ni, Phật tử lời chào trân trọng nhất. Sự hiện diện của quý vị
khẳng định thêm truyền thống uống nước nhớ nguồn của hậu duệ con cháu
đối với các bậc tiền nhân tổ tông, những người đã đóng góp trí tuệ và
sức lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, truyền lại cảm
hứng hào hùng của hằng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta cho con cháu ngày nay. Kính chúc Quý vị sức khỏe, an lạc và đạt
nhiều thành tựu trong tinh thần đoàn kết hòa hợp.
Kính bạch chư Tôn đức,
Kính thưa chư Liệt vị,
Kính thưa quý vị!
Đức
Phật đã dạy: “Phật pháp bất ly thế gian pháp”, là đại diện tiêu biểu
cho tinh thần hòa hợp giữa đạo và đời, đức vua Trần Nhân Tông đã phát
huy tính khế lý khế cơ của Đạo Phật để xây dựng một xã hội thái bình,
thịnh trị, đồng thời luôn vun bồi, giữ gìn Phật pháp bền vững, xương
minh, hướng con người đến với những giá trị chân thiện mỹ, khuyến khích
những việc làm ích đời, lợi đạo. Ở trên cương vị nào, là vị vua đứng
đầu đất nước hay nhà tu hành, đức Phật hoàng Trần Nhân Tông đều có
những đóng góp to lớn. Khi đất nước đứng trước lâm nguy, nhà vua đã
cùng vua cha lãnh đạo quân và dân ta tiến hành cuộc kháng chiến thần
thánh chống lại quân xâm lược nhà Nguyên, đem lại độc lập, tự do và chủ
quyền dân tộc cho nhân dân. Khi đất nước yên bình, nhà vua xuất gia đến
với đạo Phật, Người đã dồn hết tâm sức để làm xương minh Giáo hội, rạng
rỡ Tăng đoàn, vẻ vang Phật pháp. Sự ra đời của dòng Thiền Trúc Lâm do
Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập đã thống nhất sự phân chia của các
Thiền phái Phật giáo, củng cố lại Tăng đoàn, trang nghiêm Giáo hội và
đưa hoạt động của Phật giáo đi vào nề nếp. Đồng thời, việc xuất gia tu
đạo của đức vua Trần Nhân tông cũng làm cho việc chính trị nước nhà trở
nên hài hòa và ổn định, nhân dân được hưởng cảnh ấm no, hạnh phúc.
Thể hiện
sự nhập thế, nhằm đưa Phật giáo đến với quảng đại quần chúng nhân dân,
phát huy những yếu tố tích cực của Phật giáo trong xã hội, làm cho con
người sống tốt hơn, ý nghĩa hơn chính là mục tiêu mà Phật hoàng Trần
Nhân Tông đưa ra, đó vừa là để trợ giúp điều hành quốc gia, vừa là để
“Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” của một người con Phật. Đức vua Trần
Nhân Tông đã khéo léo vận dụng sức mạnh của tinh thần đoàn kết và kết
nối nhân tâm, thông qua những triết lý, tư tưởng đạo đức, những điều
gần gũi và bình dị của Phật giáo để thu phục, xây dựng lòng người nhất
tâm đồng thuận cùng hướng tới mục tiêu vì con người, xã hội với cá nhân
tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt thì quốc gia tốt. Đức Phật hoàng
Trần Nhân Tông đã đi khắp nhân gian khuyến giáo người dân giữ ngũ giới
và tu thập thiện. Người dân trong nước đều giữ được năm giới thì đất
nước thật sự thái bình, yên vui. Người mà thân, miệng, ý khéo tu mười
điều lành sẽ trở thành bậc hiền nhân. Người Phật tử khéo tu Ngũ giới và
Thập thiện là đóng góp một phần cho quốc gia xã hội được tốt đẹp an
vui. Được vậy, đạo Phật mới thật sự chuyển cảnh khổ thành cảnh vui,
chuyển con người phàm tục thành con người thánh thiện.
Kính bạch chư Tôn đức,
Kính thưa Quý Liệt vị,
Đại lễ
tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông này, cũng là dịp để chư Tăng Ni
trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, giới Phật tử và xã hội có dịp chiêm
ngưỡng và hiểu biết hơn về thời đại nhà Trần hào hùng trong lịch sử đất
nước với vị Vua - Phật đại diện cho ý chí vươn lên và sự thống nhất đất
nước là vua Trần Nhân Tông, cũng là một vị Tổ sư đã để lại cho đời sau
sự nghiệp hành đạo sáng chói, kết hợp hài hòa giữa vai trò của một nhà
vua và một nhà tu hành, Phật giáo luôn đồng hành cùng Dân tộc.
Cuộc đời
và sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông, không chỉ là một bài học về
đạo trị nước an dân, tạo ra sự đồng cảm trong xã hội đương thời, mà còn
cần được nghiên cứu và phát huy giá trị để áp dụng trong thực tế. Tư
tưởng “Cư trần lạc đạo” hay nói một cách ngắn gọn là: “sống đời vui
đạo” của Phật hoàng Trần Nhân Tông là một minh chứng cho thấy ông cha
chúng ta đã biết vận dụng các giáo pháp ưu trội của đạo Phật Việt Nam
để đoàn kết lòng dân, xây dựng đất nước và tiến hành chiến tranh vệ
quốc thành công, mặc dầu trong thời đại trước, nước ta chưa có những
điều kiện quốc tế rộng mở như ngày nay, chưa có sự phát triển kinh tế
xã hội và lãnh thổ như ngày nay.
Chính
trong sự phát triển cao như ngày nay của đất nước là điều kiện thuận
lợi để toàn dân và toàn xã hội có dịp nghiên cứu, đánh giá giá trị và
kế thừa các bài học thành công trong quá khứ của cha ông, rút ra từ di
sản của cha ông các tư tưởng về tự lập tự cường, bảo vệ bản sắc và chủ
quyền quốc gia dân tộc dựa trên sự đồng lòng muôn người như một của
nhân dân. Điều đó chẳng những đã được khẳng định trong suốt thế kỷ 20
qua, mà còn thể hiện ngày một rõ nét trong công cuộc công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
hiện nay.
Kính bạch Chư Tôn đức,
Kính thưa Liệt quý vị,
Trong
không khí trang nghiêm, thanh tịnh, đại hòa hợp của buổi lễ hôm nay,
thay mặt Trung ương Giáo hội và Ban Trị sự, tôi xin long trọng tuyên bố
Khai mạc Đại lễ Tưởng niệm 701 năm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập
Niệt bàn.
Ngưỡng
nguyện cầu Tam bảo gia hộ chư Tôn đức giáo phẩm pháp thể khinh an, phúc
tuệ miên trường. Kính chúc Quý vị khách quý, quý Phật tử vô lượng an
lạc. Chúc toàn thể Pháp hội sức khỏe và an khang.
Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật


Hòa thượng Thích Thiện Nhơn (Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Đồng Trị Sự GHPGVN)
tuyên đọc Tiểu sử Đức Vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
TIỂU SỬ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
SƠ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM VIỆT NAM
(1258 - 1308)
Phật
hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258
(11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu
Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có
màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
Lớn
lên, năm 16 tuổi (1274), Ngài được lập làm Đông cung Thái tử và cùng
năm Ngài kết duyên cùng công chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại
Vương. Vua Trần Thánh Tông đã mời các bậc lão thông Nho giáo, Tứ thư,
Ngũ kinh để dạy cho Ngài như Lê Phụ Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ
Cố v.v… tất cả đều hết lòng dạy dỗ. Chính Vua cha cũng đã soạn Di hậu
lục để dạy dỗ cho Thái tử cách xử thế, chuẩn bị nối nghiệp sau nầy.
Về
Phật pháp, Ngài học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ, được Thượng Sĩ hết
lòng hướng dẫn và trao đổi những yếu nghĩa Thiền tông. Ngài tâm đắc
nhất là câu: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Quan sát
lại chính mình đó là bổn phận, không do người khác làm được) và tôn thờ
Tuệ Trung Thượng Sĩ làm Thầy. Ngài thường tới lui chùa Tư Phúc trong
kinh thành để tụng kinh, tọa thiền, lễ bái Tam bảo.
Năm 21
tuổi (1279), Ngài được Trần Thánh Tông truyền ngôi, trị vì thiên hạ Đại
Việt, lấy đức trị vì, dân chúng an cư lạc nghiệp, lấy niên hiệu là
Thiệu Bảo.
Trước
thảm họa ngoại xâm, quân Nguyên - Mông chuẩn bị xâm chiếm nước Nam. Năm
1282, Ngài chủ trì Hội nghị Bình Than để lấy ý kiến toàn dân trong cuộc
chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Năm 1284, trước khi cuộc chiến tranh diễn
ra, Ngài chủ trì Hội nghị Diên Hồng, lấy ý kiến các vị Bô lão, những
người đứng đầu các Bộ lạc. Toàn thể hội nghị già trẻ, gái trai đều một
lòng tung hô quyết chiến.
Năm
1285, với tinh thần bảo vệ dân tộc, Tổ quốc của toàn dân, Ngãi đã lãnh
đạo và chiến thắng cuộc xâm lăng Nguyên – Mông lần thứ nhất.
Với ý
đồ bành trướng Phương Nam, tiến chiếm Chiêm Thành, làm bàn đạp thôn
tính Đại Việt, Trần Nhân Tông lại một lần nữa lãnh đạo cuộc chiến tranh
vệ quốc vĩ đại, với sự quyết tâm chiến thắng của toàn quân, toàn dân,
Ngài đã chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ hai năm 1288. Cảm hứng
trước sự chiến thắng của dân tộc, Ngài đã làm hai câu thơ lưu lại:
“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông muôn thuở vững âu vàng”
(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu)
Sau
khi đất nước thanh bình, dân chúng an cư lạc nghiệp, Ngài đã củng cố
triều đình, phủ dụ, đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển đất nước
trong thời hậu chiến. Với mục đích chủ hòa, Ngài đã bỏ qua những lỗi
lầm đã có của quần thần cũng như thân tộc.
Năm 41 tuổi (1293), Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng.
Năm 1294, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi và làm cho nước Triệu Voi tiếp tục thần phục Đại Việt.
Sau
khi chinh phạt Ai Lao, Ngài trở về Hành cung Vũ Lâm – Ninh Bình, cầu
Quốc sư Huệ Tuệ làm lễ Xuất gia, tập sự tu hành tại đây một thời gian.
Năm
1299. Ngài quyết tâm trở lại thăm Kinh sư lần cuối, rồi đi thẳng lên
núi Yên Tử - Quảng Ninnh quyết chí tu hành, tham thiền nhập định, lấy
tên là “Hương Vân Đại Đầu Đà” và độ Đồng Kiên Cương làm đệ tử và ban
pháp hiệu là Pháp Loa.
Năm
1301, Ngài hạ san, đi thăm hữu nghị đất nước Chiêm Thành và nghiên cứu
về tôn giáo, tạo lập mối quan hệ hợp tác, hòa bình, hữu nghị với các
nước lân bang. Trở về chùa Phổ Minh phủ Thiên Trường giảng kinh, thuyết
pháp, mở Hội đại thí vô lượng cho nhân dân.
Năm
1304, Ngài chống gậy trúc dạo đi khắp nước Đại Việt, khuyến khích muôn
dân giữ năm giới, tu hành Thập thiện, dẹp bỏ những nơi thờ cúng không
đúng Chính pháp, loại bỏ những điều mê tín dị đoan v.v… Ngài đến Bố
Chánh – Quảng Bình lập am Tri Kiến và lưu lại đây một thời gian. Sau
đó, được Vua Trần Anh Tông thỉnh vào nội cung để truyền giới Bồ tát cho
Bá quan văn võ, quần thần.
Sau
chuyến thăm hữu nghị Chiêm Thành năm 1301, Ngài có hứa đính hôn Công
chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm là Chế Mân. Năm 1305, Vua Chiêm Thành sai
Chế Bồ Đài và phái đoàn ngoại giao mang vàng, bạc… sính lễ cầu hôn. Đến
năm 1306, Ngài đứng ra chứng minh hôn lễ giữa Công chúa Huyền Trân và
Chế Mân – Vua Chiêm Thành.
Trước
thành quả ngoại giao hôn phối ấy, Vua Chiêm đã dâng hai quận Châu Ô,
Châu Rí cho Đại Việt làm quà sính lễ. Đây chính là điều kiện giúp cho
Đại Việt mở rộng bờ cõi về phương Nam là Thuận Hóa (Huế).
Năm
1307, Ngài truyền Y Bát lại cho Tôn giả Pháp Loa, lên làm Sơ Tổ Trúc
Lâm và Pháp Loa là Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian
đó, Ngài thường lui tới chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Duơng,
Vĩnh Nghiêm Lạng Giang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng
kinh, thuyết pháp và chứng minh các Lễ hội…
Sau
khi truyền Y Bát cho Tôn giả Pháp Loa, Ngài tập trung biên soạn Kinh
sách và Ngữ lục. Qua đó, Ngài đã để lại cho đàn hậu học một số tài liệu
vô cùng quý báu như: Trần Nhân Tôn thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập,
Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Trung hưng Thực Lục, Truyền Đăng
Lục v.v….
Trước
khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ Pháp Thân Thường Trụ qua sự trả
lời cho thị giả hầu cận bên Ngài là Bảo Sát: “Tất cả pháp không sanh.
Tất cả pháp không diệt. Ai hiểu được như vầy. Thì chư Phật hiện tiền.
Nào có đến có đi” (Nhất thiết pháp bất sanh. Nhất thiết pháp bất diệt.
Nhược năng như thị giải. Chư Phật thường tại tiền. Hà khứ lai chi hữu).
Theo
sử cũ, Ngài xả báo an tường, thâu thần thị tịch ngày 01/11/Mậu Thân
(1308). Thọ thế 51 năm tại am Ngọa Vân – Đông Triều – Quảng Ninh. Vua
Trần Anh Tông cung thỉnh nhục thân Ngài về kinh đô Thăng Long cử hành
Quốc tang trong thời gian hai tuần. Sau đó, Vua quan, quần thần, văn võ
bá quan, đệ tử Pháp Loa, Bảo Sát và chúng Tăng trong nước cử hành Lễ
Trà tỳ.
Sau
khi thu nhặt Xá lợi, Xá lợi được chia làm hai phần, một phần xây tháp
thờ ở Lăng Quý Đức phủ Long Hưng – Thái Bình; một phần xây tháp tôn thờ
tại chùa Vân Yên – Yên Tử, Quảng Ninh, lấy hiệu là Huệ Quang Kim Tháp,
dâng Thánh hiệu: Đại Thánh Trần Triều, Trúc Lâm Đầu Đà, Tịnh Tuệ Giác
Hoàng Điều Ngự Phật Tổ.
Nam Mô Trúc Lâm Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Tổ Sư Tác Đại Chứng minh.

Hòa thượng Thích Từ Nhơn (Phó Chủ Tịch HĐCMGHPGVN)
tuyên đọc Văn tưởng niệm của Trung Ương GHPGVN và Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh.
VĂN TƯỞNG NIỆM
Kỷ niệm 701 năm Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn
Của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tỉnh, Thành hội Phật giáo
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Trúc Lâm Yên Tử Pháp Phái Lịch Đại Tổ Sư tác đại chứng minh.
Kính bạch Đức Tổ Sư Điều Ngự Giác Hoàng.
Từ vùng đất địa linh nhân kiệt, làng Tức Mạc, phủ Thiên Trường, Nam
Định, quê hương họ Trần dấy nghiệp. Đất Thăng Long kinh thành hoa lệ,
hai Triều Vua củng cố Đế đô, đất nước thanh bình, dân chúng an cư lạc
nghiệp, mưa thuận gió hòa, nhà nhà ngâm khúc âu ca, cả nước vui câu hữu
đạo.
Rồi một thuở duyên lành xuất hiện, Hoàng thái hậu thụ thai, đấng Tu
mi đáng bậc mày râu, vai Thiên tử từ đây kế nghiệp. Đức Thánh Tông định
lập Đông cung, chọn người thừa kế ngai vàng. Thọ học với bao hàng thức
giả, danh Sư - Tuệ Trung Thượng Sĩ thắm mùi Thiền, Lê Phụ Trần, Nguyễn
Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ Cố dày công dạy dỗ.
Khi đến độ nhân duyên hội đủ, kế nghiệp phụ vương, lên ngôi Cửu ngũ,
trị quốc an dân, lo bề giữ nước, đoàn kết một lòng, quy tụ người tài
đức, nêu cao gương hỷ xả, bỏ qua lỗi cũ, đoàn kết toàn dân, tạo thành
sức mạnh dân tộc, Hội nghị Bình Than, Diên Hồng một thuở, lấy ý chí
toàn dân, làm ý chí của mình, chống giặc ngoại xâm, Nguyên Mông khiếp
đỏm, đẩy lùi quân giặc, hai cuộc xâm lăng, chiến thắng vạn quân, giữ
nguyên bờ cõi. Quả thật: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá. Non sông nghìn
thuở vững âu vàng”.
Với tinh thần công thành thân thoái, Ngài đã lên ngôi Thái Thượng
Hoàng, truyền ngôi cho Thái tử Anh Tông kế nghiệp, thực hiện những bước
vân du hóa đạo khắp nhân gian Đại Việt, Thành Đồ Bàn một thưở lưu danh,
đất Chiêm Thành chào mừng Thánh Thượng, Huyền Trân Công Chúa, Chế Mân
một thuở gieo duyên, liên kết hai dân tộc Việt – Chăm, ổn định hòa bình
hữu nghị. Tổ lại đi khắp chốn thôn quê, thành thị, khuyên nhân dân thực
hiện 10 điều lành, xây dựng nhân gian Tịnh độ, Cực lạc tại trần gian
bằng con người và tâm thanh tịnh. Tu tâm dưỡng tánh, tin Phật tại Tâm,
Tâm là Phật, ngộ Phật ngộ Tâm viên dung một thể. Quả thực: “Cửa báu đầy
kho thôi tìm kiếm. Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền”.
Công đức hoằng dương Phật pháp của Tổ Sư sau khi ngộ đạo, Điều ngự
Giác Hoàng, Vua Phật trần gian, Trăm hoa đua nở, ngàn cỏ hương thơm,
chín nước, mười mây vang rền tiếng Pháp, chống gậy trúc dạo chơi thiên
hạ, nâng gót hài đại địa vững bền. Quả thực: “Rừng thiền Tùng Trúc còn
in bóng. Xào xạc canh thâu tiếng Pháp mầu”.
Rồi Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, Tổ khai sơn truyền thụ Tâm tông,
Pháp Loa, Huyền Quang Tôn giả, nối dõi Tông phong, Thiền giáo song
hành, ba dòng thành một, Phái Thiền Đại Việt ngàn đời, làm cho Tổ ấn
rạng ngời, đèn Thiền tỏ rạng, hương giới bay xa, chan hòa Pháp giới,
non sông xán lạn, vũ trụ huy hoàng, nhật nguyệt hồi quang, Đạo vàng
chói lọi. Phật giáo thời Trần muôn thuở, Tam giáo đồng nguyên, chan hòa
tình Dân tộc, nghĩa Pháp lữ đời đời, lương duyên hội tụ, cùng nhau
chung sống hòa bình.
Từ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, phái Thiền Việt Nam đầu tiên do Tổ
sáng lập, đã được lập cước trên những di sản văn hóa muôn đời cho nhân
thế, là Trần Nhân Tông thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Tăng già Toái
Sự, Thạch Thất Mị Ngữ, Trung Hưng Thực Lực v.v… Quả thực: “Hương thiền
gió lộng tỏa ngàn phương. Trăng sáng năm xưa ngặp dặm đường. Hoa lòng
đã nở từ độ ấy. Nương Pháp âm về tận cố hương”.
Trên tinh thần sắc tướng vốn không, mượn cảnh huyễn, độ người như
huyễn, Tử sinh nào có, nương thuyền từ độ kẻ trong mê, như Tổ Sư đã
dạy: “Tất cả Pháp không sinh. Tất cả Pháp không diệt. Ai hiểu được
nghĩa này. Thì Chư Phật hiện tiền. Nào có đến có đi”. Do đó, dù thời
gian có đi qua hơn 700 năm, không gian có biến dịch, song công đức, đạo
nghiệp của Tổ Sư vẫn còn sống mãi trong trang sử vàng son của dân tộc,
của Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp Hộ quốc an Dân, đoàn kết hòa
hợp toàn dân, phát huy Đạo Pháp trong thời đại ngày nay và mãi mãi về
sau.
Nhất là đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là Giáo hội
thống nhất Phật giáo cả nước, theo truyền thống Tốt đời Đẹp đạo hai
ngàn năm lịch sử truyền thừa, nguyện tiếp tục sự nghiệp quang huy của
Tổ, của hồn thiêng sông núi Đại Việt và tinh thần đoàn kết hòa hợp đa
Tôn giáo, xây dựng một Tịnh độ tại nhân gian bằng tinh thần Phật giáo
Việt Nam, con người Việt Nam và Dân tộc Việt Nam. Quả thật:
“Vạn kiếp uy nghi ngôi Tháp Tổ
Khói vẽ nên hình chốn nhân gian”.
Hôm nay, nhân lễ Kỷ niệm 701 năm ngày Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập
Niết bàn, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, nhân dân
Việt Nam, con cháu Tiên rồng, nhiều đời Trần Việt, Thái Bình, Quảng
Ninh, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Bình Định, xin đốt nén Tâm hương ngũ
phần, dâng lời tưởng niệm chân thành, Tâm cảm ý giao, một lòng thành
kính cúi đầu đãnh lễ Lịch đại Tổ Sư, phát nguyện phụng trì Phật pháp,
phát huy chân lý Đạo nhà, giữ gìn Tổ ấn vàng son, làm rạng rỡ vang danh
chốn Tổ huy hoàng tráng lệ, non sông gấm vóc thiên thành, một cõi vững
bền muôn thuở. Đồng thành kính nguyện thực hành: Giữ gìn tinh thần đoàn
kết hòa hợp dân tộc, độc lập Tổ quốc; nêu cao tinh thần phóng khoáng,
bao dung trong cộng đồng dân tộc và xã hội, đoàn kết các Tôn giáo, để
cùng tồn tại và phát triển, thực hiện hữu hiệu phương châm “Tốt Đời đẹp
Đạo”, duy trì truyền thống dân tộc, tự lực, tự cường, phát huy nội lực,
đồng nhờ ngoại lực để phát huy Đạo giáo và đất nước phồn vinh, văn minh
tiến bộ; tạo dựng một Thiên đường, Cực lạc tại nhân gian trong lòng
người, bằng triết lý Thiền là Sống, là Tâm Từ bi chan chứa mọi loài,
trong kiếp hiện tại và mai sau của Trần thế. Thực hành Bồ tát đạo. Quả
thực:
“Mãi mãi sáng ngời gương Phật Tổ
Ngàn sau còn chiếu rạng nét Tông phong”.
Kính mong Liệt vị Tổ Sư, Hồn thiêng Sông núi, thùy từ chứng giám.
Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ tát Ma ha Tát.


Thượng tọa Thích Tấn Đạt (UV HĐTS kiêm Phó Văn Phòng 2 GHPGVN)
thay lời Ban Tổ Chức phát biểu cảm tạ.





Hòa thượng Thích Thanh Hùng (Phó Ban Hướng Dẫn Phật Tử TUGHPGVN) dâng hương.


Tin và ảnh: ĐĐ Lệ Trí.
THÍCH LỆ TRÍ (Theo THÍCH LỆ TRÍ) |